A
A
A

Tụ máu ở phổi

 
Tác giả: Alexey Portnov, bác sĩ gia đình
Ngày tạo: 24.03.2021
Lần cuối được xem xét: 27.10.2025

Trong trường hợp tổn thương mô phổi do chấn thương với sự toàn vẹn của màng phổi tạng được bảo tồn, có thể xảy ra tụ máu phổi. Bệnh lý này đi kèm với đau ngực, khó thở và đôi khi ho ra máu.

Nguyên nhân tụ máu ở phổi

Phổi bị tổn thương do tác động cơ học lên vùng ngực. Có thể là một cú đánh cùn hoặc tác động của sóng xung kích lên vùng ngực. Thông thường, chấn thương là kết quả của tai nạn giao thông, khi người lái xe bị bầm tím ngực trên vô lăng.

Sinh bệnh học

Trong một cú đánh mạnh vào vùng ngực, khung hỗ trợ của nó bị tổn thương: xương sườn cong, làm tổn thương mô phổi, làm tổn thương mạng lưới mạch máu. Kết quả là nhu mô phổi bị rò rỉ máu. Trong bối cảnh áp lực nội ngực tăng lên, vách ngăn giữa các phế nang bị vỡ, các thành phần giống như nang được hình thành, chứa đầy máu: đây là tụ máu. Do lực tác động ngược, các thành phần tương tự xuất hiện ở phía bên kia. Các vùng phổi bị ngấm máu trở nên kém đàn hồi hơn, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình trao đổi khí và kéo theo tình trạng thiếu oxy ngày càng tăng. [ 1 ]

Triệu chứng tụ máu ở phổi

Bức tranh lâm sàng của bệnh lý có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ tổn thương. Trong những trường hợp tương đối nhẹ, bệnh nhân chỉ báo cáo đau nhẹ ở ngực, ở bên bị ảnh hưởng. Cơn đau có xu hướng tăng lên khi hít vào sâu và vận động cơ thể. [ 2 ]

Nếu có triệu chứng như ho ra máu, điều này cho thấy tổn thương vừa hoặc nặng. Trong số các dấu hiệu cụ thể khác, có thể phân biệt các dấu hiệu sau:

  • khó thở ngày càng tăng;
  • nhịp tim tăng nhanh;
  • hạ huyết áp;
  • da nhợt nhạt và thậm chí tím tái;
  • tụ máu và bầm tím bên ngoài.

Các biến chứng và hậu quả

Tụ máu tụ nông giới hạn ở phổi có thể tiến triển mà không có hậu quả cụ thể nào. Bệnh lý vừa và nặng có thể phức tạp do viêm phổi sau chấn thương, hình thành vùng xơ phổi. [ 3 ]

Phòng ngừa

Để phòng ngừa biến chứng, bệnh nhân cần tìm kiếm sự chăm sóc y tế kịp thời và làm theo khuyến cáo của bác sĩ.